Dự án “Xây dựng mô hình nông hộ sản xuất than sinh học (biochar) từ phụ phẩm nông nghiệp và ứng dụng trong canh tác cây trồng tại tỉnh Thừa Thiên Huế” đã triển khai thành công, đã nâng cao nhận thức về tác hại của việc đốt rơm rạ, trấu gây ra, đã giải quyết một phần phụ phẩm từ sản xuất lúa như rơm, trấu để tái sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, cải tạo đất trồng, tiến tới một nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ bền vững của tỉnh nhà.
TS. Hồ Thắng – Giám đốc Sở KH&CN, Chủ tịch Hội đồng
Than sinh học (Biochar) là vật liệu giàu các bon được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ hoặc chất thải hữu cơ qua quá trình hoá nhiệt (nhiệt phân). Than sinh học (TSH) được đánh giá cao và sử dụng nhiều bởi nó là vật liệu chứa các bon cao, diện tích bề mặt lớn, khả năng trao đổi cation, khả năng hấp thụ phân bón và có cấu trúc ổn định. Trong canh tác cây trồng, TSH có tác dụng cải thiện độ phì nhiêu của đất, tăng năng suất cây trồng và giảm thiểu phát thải khí nhà kính thông qua việc tái chế bền vững chất thải sinh học. Thuộc tính có lợi của TSH như pH, kiềm, khả năng trao đổi cation cao, các nhóm chức bề mặt phong phú, diện tích bề mặt lớn, độ xốp rỗng cao, khả năng giữ nước tuyệt vời và khả năng giữ chất dinh dưỡng có thể giúp khắc phục các yếu tố bất lợi ảnh hưởng trong hệ thống đất-thực vật.
Trình bày báo cáo tại Hội nghị, PGS.TS. Đỗ Minh Cường – Chủ nhiệm Dự án nêu rõ, quá trình triển khai Dự án, mặc dù thời điểm triển khai không thuận lợi, đặc biệt trong bối cảnh cơn lũ lớn vừa qua tại miền Trung khiến nguồn rơm, trấu rất khan hiểm cũng đã ảnh hưởng đến việc đốt tạo TSH để đảm bảo thời vụ canh tác một số cây trồng chính; ngoài ra tình hình dịch Covid-19 xảy ra phức tạp cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện một số nội dung chính. Tuy nhiên, sau 24 tháng quá trình triển khai thực hiện Dự án (từ tháng 11/2020 – 9/2022), Đơn vị chủ trì và nhóm thực hiện Dự án đã triển khai đầy đủ nội dung đã được phê duyệt theo thuyết minh của Dự án.
PGS.TS. Đỗ Minh Cường – Chủ nhiệm Dự án trình bày báo cáo tại Hội nghị
Cụ thể, Dự án đã tiến hành điều tra về tình hình sử dụng phụ phẩm từ cây lúa và một số cây trồng khác, kết quả điều tra cho thấy trên 80% lượng rơm rạ, các loại sinh khối khác từ cây lạc, cây ớt... được đốt bỏ, sản lượng trấu khá lớn nhưng các hộ dân không có nhiều nhu cầu sử dụng. Quá trình điều tra cũng cho thấy rằng chưa có nông hộ nào áp dụng thiết bị tân tiến để sản xuất TSH từ phụ phẩm nông nghiệp và chưa triển khai ứng dụng TSH trong canh tác cây trồng. Chính vì vậy, công nghệ và thiết bị đã ứng dụng trong Dự án đã thúc đẩy việc tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất TSH và bón lại cho đất để cải tạo đất trồng.
Dự án chuyển giao 01 Quy trình, 04 tài liệu hướng dẫn và 04 thiết bị sản xuất TSH cho 04 mô hình để sản xuất ứng dụng cho canh tác cây trồng. Xây dựng được 04 mô hình nông hộ để sản xuất và ứng dụng TSH trong canh tác lúa, cây ớt, cây lạc và cây rau má. Quá trình đánh giá cho thấy, các mô hình đã mang lại hiệu kinh tế khi sử dụng TSH trong canh tác cây lúa, lạc, ớt, rau má so với phương pháp canh tác truyền thống là 6,0 – 7,3 triệu đồng/ha, 9,36 triệu đồng/ha, 34,00 triệu đồng/ha và 3,7 đồng/ha. Kết quả này khẳng định rằng, mặc dù đầu tư ban đầu khá cao cho việc chế tạo thiết bị nhiệt phân TSH để sản xuất TSH từ phụ phẩm nông nghiệp, tuy nhiên năng suất cây trồng cao hơn rõ rệt (tùy từng loại trồng), đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế cho thấy, lãi ròng từ 3,7 đến 34,0 triệu đồng/ha tuỳ từng loại cây trồng.
Toàn cảnh Hội nghị
PGS.TS. Đỗ Minh Cường cho biết, Dự án cũng đã phân tích các chỉ tiêu để đánh giá khả năng cải tạo đất khi sử dụng TSH, kết quả cho thấy rằng, việc sử dụng TSH đã cải thiện một phần tính chất của đất về mặt hóa tính và sinh học của đất, do TSH có khả năng cung cấp các nguyên tố có lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây cũng như cải thiện tính chất vật lý, hóa học của đất, tạo điều kiện thuận lợi kích thích cho vi sinh vật có lợi phát triển. Dự án đã thành công trong chuyển giao công nghệ trong các nội dung mô hình, chia sẻ được nhiều thông tin đến người dân trong vùng triên khai Dự án và những người quan tâm qua việc tổ chức 03 đợt tập huấn, 02 hội nghị đầu bờ, 01 hội thảo khoa, các video trình diễn, bản tin truyền hình... Qua đó, hiệu quả về mặt kinh tế, kỹ thuật, môi trường của Dự án được lan toả, nhân rộng. Dự án cũng đã góp phần vào cơ sở dữ liệu khoa học qua các bài báo được xuất bản, báo cáo tổng kết Dự án.
Mô hình sử dụng than sinh học trong canh tác lạc
Về công tác chuyển giao công nghệ, Chủ nhiệm Dự án chia sẻ, Dự án được thực hiện với sự chuyển giao 04 thiết bị nhiệt phân tạo TSH từ rơm, trấu và 01 Quy trình sản xuất TSH từ rơm, trấu bằng thiết bị sản xuất TSH theo mẻ, năng suất 50kg rơm/mẻ (100kg trấu/mẻ), xây dựng được 04 Quy trình kỹ thuật/tài liệu hướng dẫn bón TSH để canh tác cây lúa, lạc, ớt và rau má tại địa bàn triển khai Dự án (huyện Phú Vang và huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế).
Chế tạo thiết bị sản xuất than sinh học theo mẻ, năng suất 50 kg rơm/mẻ hoặc 100 kg trấu/mẻ, phù hợp quy mô nông hộ
Kết quả triển khai chuyển giao các thiết bị, các quy trình công nghệ, tài liệu hướng dẫn được người dân và cán bộ chuyên môn, kỹ thuật nông nghiệp tại địa phương đánh giá là phù hợp với quy mô nông hộ và quá trình canh tác các loại cây trồng chính tại Thừa Thiên Huế. Điều này được minh chứng là sau 2 năm thực hiện, cán bộ địa phương, người nông dân vùng triển khai Dự án nhận thức được sự tác hại do việc đốt rơm rạ, trấu trực tiếp gây ra và có phương án sử dụng nguồn phụ phẩm này nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường, đặc biệt tái sử dụng trong canh tác cây trồng. Công tác chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua việc xây dựng các mô hình điểm, tập huấn, trình diễn, hội nghị, hội thảo và quảng bá mô hình trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân nắm bắt và thực hiện.
GS.TS. Trần Thái Hoà – Uỷ viên phản biện trao đổi tại Hội nghị
Sau khi nghe Chủ nhiệm Dự án trình bày báo cáo, các thành viên Hội đồng đã ghi nhận, đánh giá cao kết quả của Dự án và có tính ứng dụng vào thực tiễn. Bên cạnh đó, Hội đồng cũng đề xuất Đơn vị chủ trì xem lại hiệu quả kinh tế, năng suất của các mô hình bón biochar so với mô hình đối chứng. Bổ sung nguyên lí thiết kế chế tạo ra máy (những nội dung kế thừa từ các nghiên cứu trước), bổ sung các thông số kỹ thuật vào thiết bị để người dùng được biết, đánh giá các khó khăn khi nhân rộng mô hình này trên thực tế và đưa ra giải pháp… Kết quả, Hội đồng nhất trí nghiệm thu Dự án với kết quả Đạt.
TS. Nguyễn Hữu Chúc – Uỷ viên phản biện
Phát biểu kết luận tại Hội nghị, TS. Hồ Thắng – Giám đốc Sở KH&CN, Chủ tịch Hội đồng đề nghị Đơn vị chủ trì tiếp thu toàn diện các ý kiến của các thành viên Hội đồng để hiệu chỉnh lại Báo cáo tổng kết, bổ sung các giải pháp về thương mại hoá kết quả. Khuyến cáo đăng ký Giải pháp hữu ích, bổ sung nguồn gốc công nghệ, tài liệu tham khảo, thông số kỹ thuật của thiết bị, tính toán lại hiệu quả kinh tế cho phù hợp thực tế, lưu ý các quy chuẩn về bảo vệ môi trường đối với khí thải.
Nguồn: skhcn.thuathienhue.gov.vn

